Hàng hóa cho mượn có phải xuất hóa đơn không?



Hàng hóa cho vay, mượn có phải lập hóa đơn không? Bài viết này Công ty kế toán Hà Nội xin tổng hợp những quy định mới nhất về việc Cho vay, mượn hàng hóa, nguyên vật liệu, tài sản
 Hàng hóa cho mượn có phải xuất hóa đơn không?
Xem thêm:

Theo khoản 1 điều 16 Thông tư 39/2014/TT-BTC nguyên tắc lập hóa đơn:
“b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa.”
- Nhưng điểm này đã được sử đổi, bổ sung theo Theo khoản 3 điều 5 Thông tư 119/2014/TT-BTC:
“b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất.”
- Nhưng Điểm này được sửa đổi bởi Khoản 7 Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-BTC
“b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hoá, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động (trừ hàng hoá luân chuyển nội bộ, tiêu dùng nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất).
Như vậy: Đã bỏ cụm từ: “xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa.”
Theo khoản 2 điều 3 Thông tư 119/2014/TT-BTC:
“Trường hợp xuất máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa dưới hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả, nếu có hợp đồng và các chứng từ liên quan đến giao dịch phù hợp, cơ sở kinh doanh không phải lập hóa đơn, tính, nộp thuế GTGT”.
Như vậy: Khi cho vay, mượn hàng hóa thì không phải lập hóa đơn, tính, nộp thuế GTGT.
Nhưng ngày 30/04/2015: Cổng thông tin điện tử của Bộ tài chính lại có câu trả lời ngược lại, cụ thể như sau:
Câu hỏi:
Kính gửi: Bộ Tài Chính Tôi đang vướn một vấn đề như sau rất mong BTC hướng dẫn giúp:
- Theo Thông tư 119/2014/TT-BTC tại Điều 5, Khoản 3, Điểm a Sửa đổi, bổ sung hướng dẫn tại điểm b, c khoản 1 Điều 16 như sau: ( có hiệu lực từ ngày 01/09/2014)
“b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất.”
- Nếu theo TT 119 thì việc mượn hàng hóa thì bên cho mượn không cần phải xuất hóa đơn đầu ra cho bên mượn.
- Vậy nếu đơn vị tôi mượn hàng hóa của một NCC hoặc đối tác để bán ra, chứng từ kèm theo cho việc mượn hàng là Hợp đồng mượn, BB bàn giao hàng hóa, tôi đã dùng hàng hóa đó để bán ra và xuất hóa đơn đầu ra cho khách hàng.
- Khi nào tôi mua được hàng, có hóa đơn tài chính đầy đủ thì tôi xuất trả lại hàng cho bên cho mượn.
- Vậy hàng mượn của tôi, khi xuất bán có được tính giá vốn hợp lý hợp lệ không? Rất mong nhận được sự phản hồi của BCT. Chân thành cảm ơn!
Tại Điều 512, Điều 517 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định:
- Hợp đồng mượn tài sản: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.
- Quyền của bên cho mượn tài sản: “ … Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn…”
Như vậy, bên cho mượn là chủ sở hữu đối với tài sản và có quyền định đoạt đối với tài sản cho mượn. Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản khi được sự ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, khoản 2a Điều 4 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính thì thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng (GTGT), xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua.
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp trong Hợp đồng “mượn” hàng hóa có thỏa thuận bên mượn được phép bán hàng hóa của bên cho mượn thì Hợp đồng “mượn” hàng hóa nêu trên thực chất là Hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán (tức bên cho “mượn”) phải xuất hóa đơn bán hàng hóa cho bên mua (bên “mượn”) theo quy định. Trường hợp Công ty của Ông (Bà) có mượn hàng hóa của nhà cung cấp hoặc đối tác theo đúng quy định về Hợp đồng mượn tài sản (hàng hóa) quy định tại Bộ luật dân sự, sau đó Công ty của Ông (Bà) đem tài sản (hàng hóa) mượn để bán ra cho khách hàng là không đúng quy định vì hàng hóa đó không thuộc quyền sở hữu và quyền định đoạt của Công ty của Ông (Bà).
(Nguồn: http://www.mof.gov.vn)
Theo khoản 10 điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC
"4. Các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm:
a) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng."

Những tố chất cần thiết của nghề kế toán


Nghề kế toán không khó. Nhưng làm thế nào để thành công trong nghề kế toán thì không phải ai cũng biết. Bài viết này chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn Những tố chất cần thiết của nghề kế toán, giúp các bạn sớm định hướng được mình có phù hợp với nghề này không.
Những tố chất cần thiết của nghề kế toán
Có thể bạn quan tâm:


1. Yêu thích môn toán và những môn học liên quan đến môn toán
  Khả  năng đặc biệt về môn Toán là một lợi thế  khi bạn học ngành Kế toán. Môn toán giúp là khởi nguồn của các môn khoa học tự nhiên. Môn toán giúp bạn có tư duy nhanh nhạy, logic, giúp ích rất nhiều cho công việc liên quan đến những con số, chứng từ, sổ sách trong kế toán. Ngoài ra, xác suất thống kê và toán cao cấp cũng là những môn học mà bạn cần phải học tốt. Đây là 2 môn học nền tảng giúp bạn có thể nắm bắt tốt các kiến thức về kế toán sau này.
  Trong các chương trình đào tạo hiện nay, Toán là môn học bắt buộc và chiếm khá nhiều tiết học trong giáo trình đào tạo. Trong 6 nhóm kiến thức cơ bản, phần kiến thức về tài chính là mảng quan trọng nhất bởi nó gắn liền với quá trình làm việc sau này của bạn. Và đương nhiên, khối kiến thức này có liên quan chặt chẽ đến môn Toán. Tuy nhiên, ngoài kiến thức cơ bản này, bạn còn được học nhiều môn học bổ trợ khác như các môn kinh tế cơ sở, các môn thuộc phần phản lý kinh doanh, ngoại ngữ và tin học...
  Theo kinh nghiệm của các anh chị đi trước, bạn nên chú ý học tốt môn Xác xuất thống kê và toán cao cấp (cũng là hai môn liên quan đến môn Toán – bạn cần có kiến thức căn bản từ trước). Đây là hai môn cơ bản làm nền tảng để bạn có thể tiếp thu kiến thức Kế toán cũng như hoàn thành công việc sau này.

2. Tính cẩn thận, tỉ mỉ trong từng công việc
  Kế toán là nghề làm việc với những sổ sách, chứng từ phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp. Toàn bộ đều là những "con số" mang tính pháp lý, liên quan đến pháp luật. Vì vậy, kế toán viên phải là người cẩn thận trong việc giữ gìn sổ sách, chứng từ cũng như tỉ mỉ trong từng phép tính với những con số của doanh nghiệp.
  Nghề này luôn gắn liền với tài liệu, sổ sách, giấy tờ, chứng từ  trong đó chứa đựng những con số “biết nói” về tình hình tài chính của doanh nghiệp vì vậy Kế toán viên phải cẩn thận trong việc giữ gìn tài liệu, sổ sách, chứng từ cũng như tỉ mỉ trong từng phép tính toán với những con số để làm sao chúng “nói” đúng nhất với người sử dụng thông tin.

3. Trung thực, năng động, ham học hỏi
  Làm Kế toán là công việc liên quan đến sổ sách, tiền nong. Do vậy bạn cũng cần có tính trung thực. Không chỉ với tất cả mọi người mà còn là trung thực với chính bản thân bạn.
  Ngoài ra bạn cần không ngừng học hỏi những người đi trước để tích lũy thêm kinh nghiệm cho bản thân. Nghề này đòi hỏi có sự năng động, sáng tạo, có kiến thức tổng hợp để phân tích đánh giá tham mưu cho người sử dụng thông tin đề ra các quyết định đúng đắn.

4. Yêu nghề kế toán
  Đây là yếu tố quan trọng nhất để bạn có quyết định lựa nghề kế toán hay không? Nếu bạn là một người ưa bay nhảy,  hoạt động giao tiếp rộng với cộng đồng thì cần suy nghĩ trước khi chọn nghề Kế toán.
  Bên cạnh đó, có  một số vấn đề bạn cần lưu ý khi làm việc trong nghề Kế toán:
- Tinh thần làm việc nhóm rất cao. Bạn sẽ phải liên hệ trực tiếp với hầu hết tất cả các bộ phận trong công ty.
- Phải luôn cập nhật những kiến thức mới. Các phương pháp kiểm tra chi phí và quản lý hồ sơ hầu như luôn phát triển và đổi mới hàng ngày, hãy chắc rằng mình luôn nắm kịp được chúng.
Tóm lại, nghề Kế toán đòi hỏi bạn phải hội tụ đầy đủ những tố chất:
- Có khả năng tính toán tốt.
- Có khả năng tư duy tốt.
- Có khả năng làm việc độc lập.
- Tính cần cù, chăm chỉ.
- Thận trọng, cẩn thận, trung thực.
Chúc các bạn thành công!

Hồ sơ dự thi kế toán

Bài viết này chúng tôi xin chia sẻ đến các bạn Hồ sơ dự thi kế toán cho những bạn nào sắp có kế hoạch thi lấy chứng chỉ kế toán, kiểm toán.
Hồ sơ dự thi kế toán
Có thể bạn quan tâm:
1. Người đăng ký dự thi lần đầu để lấy Chứng chỉ kiểm toán viên hoặc Chứng chỉ hành nghề kế toán, hồ sơ dự thi gồm:
a) Phiếu đăng ký dự thi có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi đang công tác hoặc của Ủy ban nhân dân địa phương nơi cư trú, có dán ảnh màu cỡ 3x4 mới chụp trong vòng 6 tháng và đóng dấu giáp lai theo mẫu quy định tại Phụ lục số 02a hoặc Phụ lục số 02b ban hành kèm theo Thông tư này kèm theo Giấy xác nhận về thời gian công tác thực tế làm tài chính, kế toán, kiểm toán có chữ ký của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu xác nhận của cơ quan, đơn vị theo mẫu quy định tại Phụ lục số 06 ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Bản sao có chứng thực Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu;
c) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi đang công tác hoặc Uỷ ban nhân dân địa phương nơi cư trú;
d) Bản sao văn bằng, chứng chỉ đối với người dự thi lấy Chứng chỉ hành nghề kế toán theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 và đối với người dự thi lấy Chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư này, có xác nhận của tổ chức cấp hoặc cơ quan công chứng. Nếu là bằng tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác thì phải nộp kèm theo bảng điểm có chứng thực ghi rõ số đơn vị học trình (hoặc tiết học) của tất cả các môn học. Trường hợp người dự thi nộp bằng thạc sỹ, tiến sỹ thì phải nộp kèm theo bảng điểm học thạc sỹ, tiến sỹ có ghi rõ ngành học có chứng thực;
đ) 3 ảnh màu cỡ 3x4 mới chụp trong vòng 6 tháng và 02 phong bì có dán tem và ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người nhận.
2. Người đăng ký dự thi lại các môn thi đã thi chưa đạt yêu cầu hoặc thi tiếp các môn chưa thi hoặc thi để đạt tổng số điểm quy định tại khoản 4 Điều 18 Thông tư này, hồ sơ dự thi gồm:
a) Phiếu đăng ký dự thi có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi đang công tác hoặc của Ủy ban nhân dân địa phương nơi cư trú, có dán ảnh màu cỡ 3x4 mới chụp trong vòng 6 tháng và đóng dấu giáp lai theo mẫu quy định tại Phụ lục số 02a hoặc Phụ lục số 02b ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Bản sao Giấy chứng nhận điểm thi của các kỳ thi trước do Hội đồng thi thông báo;
c) Ảnh và phong bì như quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này.
3. Người có Chứng chỉ hành nghề kế toán muốn đăng ký dự thi lấy Chứng chỉ kiểm toán viên, hồ sơ dự thi gồm:
a) Phiếu đăng ký dự thi có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi đang công tác hoặc của Ủy ban nhân dân địa phương nơi cư trú, có dán ảnh màu cỡ 3x4 mới chụp trong vòng 6 tháng và đóng dấu giáp lai theo mẫu quy định tại Phụ lục số 02b ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Bản sao có chứng thực Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu;
c) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi đang công tác hoặc Uỷ ban nhân dân địa phương nơi cư trú;
d) Bản sao có chứng thực Chứng chỉ hành nghề kế toán;
đ) Ảnh và phong bì như quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này.
4. Hồ sơ dự thi do Hội đồng thi phát hành theo mẫu thống nhất. Người đăng ký dự thi phải nộp hồ sơ cho Hội đồng thi hoặc đơn vị được Hội đồng thi uỷ quyền trong thời hạn theo thông báo của Hội đồng thi.
5. Đơn vị nhận hồ sơ dự thi chỉ nhận hồ sơ khi người đăng ký dự thi nộp đầy đủ giấy tờ trên và nộp đủ lệ phí dự thi.
6. Lệ phí dự thi được hoàn trả cho người không đủ điều kiện dự thi hoặc người có đơn xin không tham dự kỳ thi trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Hội đồng thi công bố danh sách thí sinh đủ điều kiện dự thi.

Những điểm mới về luật thuế

Từ 01/01/2014 rất nhiều chính sách, quy định về THUẾ được thay đổi: Từ kê khai, đến sắc thuế... Cùng chúng tôi tìm hiểu về Những điểm mới về luật thuế nhé. 
Có thể bạn quan tâm:

1.Doanh nghiệp mới thành lập năm 2014 sẽ thực hiện kê khai thuế GTGT như thế nào?
Theo hướng dẫn của thông tư 219/2013 ngày 31/12/2013 có hiệu lực từ 1/1/2014 thì Doanh nghiệp mới thành lập sẽ kê khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, theo mẫu số 04/GTGT trên hỗ trợ kê khai thuế phiên bản HTKK 3.2.0 kể từ ngày 01/01/2014, trừ khi doanh nghiệp mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên ghi trên hoá đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị, kể cả hoá đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị trước khi thành lập (không bao gồm ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống của cơ sở kinh doanh không hoạt động vận tải, du lịch, khách sạn); tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ và phải gửi Thông báo về việc áp dụng phương pháp tính thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp cùng với hồ sơ đăng ký thuế.
Những điểm mới về luật thuế
Sau đó khi hoạt động được 1 năm thì căn cứ vào doanh thu năm đó có đủ điều kiện trên 1 tỷ không thì sẽ được kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
2.Doanh nghiệp có doanh thu dưới 1 tỷ đăng tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế:
Doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT dưới một tỷ đồng đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế phải gửi Thông báo về việc áp dụng phương pháp khấu trừ thuế cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là ngày 20 tháng 12 hàng năm.
3. huế suất GTGT đối với thuốc chữa bệnh 5% hay 10% từ năm 2014.
Mấy hôm Công ty mình liên tục nhận được các câu hỏi về thuế GTGT của DƯỢC PHẨM ( thuốc chữa bệnh) - THUẾ SUẤT 5% hay 10% ??? - có một số ý kiến cho rằng: mặt hàng thuốc chịu thuế VAT chuyển lên 10% từ năm 2014.
Mình gửi cả nhà tham khảo VĂN BẢN ĐỐI CHIẾU CHÉO NĐ 209 và NĐ 123, Luật thuế GTGT 13/2008 và Luật sửa đổi bổ sung 31/2013 để các bạn tham khảo.
Và đây là nội dung thông tư 219 hướng dẫn nghị định 209/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/1/2014. Điều 10. Thuế suất 5%
4.Thiết bị, dụng cụ y tế gồm máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế như: các loại máy soi, chiếu, chụp dùng để khám, chữa bệnh; các thiết bị, dụng cụ chuyên dùng để mổ, điều trị vết thương, ô tô cứu thương; dụng cụ đo huyết áp, tim, mạch, dụng cụ truyền máu; bơm kim tiêm; dụng cụ phòng tránh thai và các dụng cụ, thiết bị chuyên dùng cho y tế khác theo xác nhận của Bộ Y tế.
Bông, băng, gạc y tế và băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, trừ thực phẩm chức năng; vắc-xin; sinh phẩm y tế, nước cất để pha chế thuốc tiêm, dịch truyền; vật tư hoá chất xét nghiệm, diệt khuẩn dùng trong y tế; mũ, quần áo, khẩu trang, săng mổ, bao tay, bao chi dưới, bao giày, khăn, găng tay chuyên dùng cho y tế, túi đặt ngực và chất làm đầy da (không bao gồm mỹ phẩm).
5.Về thay đổi hình thức kê khai nộp thuế GTGT
Về thay đổi hình thức kê khai nộp thuế GTGT ( từ tháng sang quý hay từ quý sang tháng) thì DN đối chiếu với quy định tại TT 156, nếu có thay đổi hình thức kê khai thuế GTGT thì gửi văn bản đăng ký đến CCT Từ 01/01/2014 rất nhiều chính sách, quy định về THUẾ được thay đổi: Từ kê khai, đến sắc thuế... Cụ thể:
Doanh nghiệp mới thành lập năm 2014 sẽ thực hiện kê khai thuế GTGT như thế nào?
Theo hướng dẫn của thông tư 219/2013 ngày 31/12/2013 có hiệu lực từ 1/1/2014 thì Doanh nghiệp mới thành lập sẽ kê khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, theo mẫu số 04/GTGT trên hỗ trợ kê khai thuế phiên bản HTKK 3.2.0 kể từ ngày 01/01/2014, trừ khi doanh nghiệp mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên ghi trên hoá đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị, kể cả hoá đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị trước khi thành lập (không bao gồm ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống của cơ sở kinh doanh không hoạt động vận tải, du lịch, khách sạn); tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ và phải gửi Thông báo về việc áp dụng phương pháp tính thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp cùng với hồ sơ đăng ký thuế.
Sau đó khi hoạt động được 1 năm thì căn cứ vào doanh thu năm đó có đủ điều kiện trên 1 tỷ không thì sẽ được kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
DN có doanh thu dưới 1 tỷ đăng tự nguyện áp dụng PP khấu trừ thuế:
Doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT dưới một tỷ đồng đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế phải gửi Thông báo về việc áp dụng phương pháp khấu trừ thuế cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là ngày 20 tháng 12 hàng năm
Thuế suất GTGT đối với thuốc chữa bệnh 5% hay 10% từ năm 2014.
Mấy hôm Công ty mình liên tục nhận được các câu hỏi về thuế GTGT của DƯỢC PHẨM ( thuốc chữa bệnh) - THUẾ SUẤT 5% hay 10% ??? - có một số ý kiến cho rằng: mặt hàng thuốc chịu thuế VAT chuyển lên 10% từ năm 2014.
Mình gửi cả nhà tham khảo VĂN BẢN ĐỐI CHIẾU CHÉO NĐ 209 và NĐ 123, Luật thuế GTGT 13/2008 và Luật sửa đổi bổ sung 31/2013 để các bạn tham khảo.
Và đây là nội dung thông tư 219 hướng dẫn nghị định 209/2013 có hiệu lực từ 1/1/2014.
Điều 10. Thuế suất 5%
11. Thiết bị, dụng cụ y tế gồm máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế như: các loại máy soi, chiếu, chụp dùng để khám, chữa bệnh; các thiết bị, dụng cụ chuyên dùng để mổ, điều trị vết thương, ô tô cứu thương; dụng cụ đo huyết áp, tim, mạch, dụng cụ truyền máu; bơm kim tiêm; dụng cụ phòng tránh thai và các dụng cụ, thiết bị chuyên dùng cho y tế khác theo xác nhận của Bộ Y tế.
Bông, băng, gạc y tế và băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, trừ thực phẩm chức năng; vắc-xin; sinh phẩm y tế, nước cất để pha chế thuốc tiêm, dịch truyền; vật tư hoá chất xét nghiệm, diệt khuẩn dùng trong y tế; mũ, quần áo, khẩu trang, săng mổ, bao tay, bao chi dưới, bao giày, khăn, găng tay chuyên dùng cho y tế, túi đặt ngực và chất làm đầy da (không bao gồm mỹ phẩm).
...
4.Về thay đổi hình thức kê khai nộp thuế GTGT
Về thay đổi hình thức kê khai nộp thuế GTGT ( từ tháng sang quý hay từ quý sang tháng) thì DN đối chiếu với quy định tại TT 156, nếu có thay đổi hình thức kê khai thuế GTGT thì gửi văn bản đăng ký đến CCT

Cơ chế hoạt động cuả thuế giá trị gia tăng

Các bạn có biết Cơ chế hoạt động của thuế GTGT như thế nào không? Nếu các bạn chưa rõ về cơ chế hoạt động của nó thì cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!
Cơ chề hoạt động cuả thuế giá trị gia tăng
Có thể bạn muốn xem:

 Cơ sở cuả thuế giá trị gia tăng chính là phần giá trị tăng thêm cuả sản phẩm do cơ sở sản xuất, kinh doanh mới sáng tạo ra chưa bị đánh thuế. Nói cách khác, cơ sở cuả thuế giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Do đó cơ chế hoạt động cuả thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:

- Một trong những nguyên tắc cơ bản cuả thuế giá trị gia tăng là sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế như nhau.

- Thuế giá trị gia tăng có điểm cơ bản khác với thuế doanh thu là chỉ có người bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế giá trị gia tăng trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc cung ứng dịch vụ). Còn người bán hàng (hoặc dịch vụ) ở các khâu tiếp theo đối với hàng hoá (hoặc dịch vụ) đó, chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm. Nói cách khác, thuế giá trị gia tăng là loại thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá  (hoặc dịch vụ) từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, khi khép kín một chu kỳ kinh tế. Ðến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.

- Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi kết qủa sản xuất, kinh doanh của đối tượng  nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản được cộng thêm vào giá bán của đối tượng cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

- Thuế giá trị gia tăng do người tiêu dùng chiụ nhưng không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do người bán sản phẩm (hoặc dịch vụ) nộp thay vào kho bạc, do trong giá bán hàng hoá (hoặc trong dịch vụ) có cả thuế giá trị gia tăng. Vì qua từng công đoạn, thuế giá trị gia tăng đã được người bán đưa vào giá hàng hoá, dịch vu,ỷ cho nên thuế này được chuyển toàn bộ cho người mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ cuối cùng chịu.

Ðể áp dụng thuế giá trị gia tăng cho đúng đắn, công bằng, có hiệu quả, đáp ứng được chủ trương " góp phần thúc đẩy sản xuất, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập cuả người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước", cần phải giải quyết trước hết một số vấn đề sau:

- Các hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ  lớn và vừa phải thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ hợp lệ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, xác định doanh thu tính thuế và khấu trừ thuế đối với từng cơ sở kinh doanh.

- Công tác kế toán doanh nghiệp, nhất là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải được hướng dẫn thực hiện thật tốt, đảm bảo được giá thành sản phẩm phản ảnh trung thực các chi phí thực tế phát sinh đã cấu tạo ra sản phẩm lưu thông trên thị trường đến tay người tiêu dùng. Hệ thống bán lẽ (các cửa hàng, cửa hiệu, các siêu thị) cũng được hướng dẫn chế độ sổ sách kế toán hợp lệ, thực hiện nghiêm chỉnh và được kiểm tra chặt chẽ. Chỉ số giá cả lên xuống từng thời kỳ phải được quy định rõ để tiến hành điều chỉnh giá bán lẽ, đảm bảo giá trị tăng thêm hợp lý.

- Trình độ cán bộ quản lý thu thuế phải được nâng cao về chế độ hoá đơn, chứng từ, sổ kế toán, thông thạo về chế độ quản lý, tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng. Hơn nữa, khi áp dụng thuế giá trị gia tăng thì vai trò cuả người thu thuế đồng thời cũng là người trả thuế (thoái thu) và vai trò cuả người nộp thuế cũng là người thu thuế (được cơ quan thuế khấu trừ hoặc hoàn lại). Người thu thuế phải có khả năng tính được mức thuế phải thu, mức thuế khấu trừ cho đúng, đũ, kịp thời. Về khả năng thì có thể đào tạo được, nhưng vấn đề quan trọng nhất là người thu thuế nếu kém phẩm chất sẽ có điều kiện để tiêu cực, đó là việc tính mức khấu trừ, mức thoái thu cao hơn mức chính xác, làm thiệt hại cho ngân sách nhà nước hoặc khấu trừ không đủ, hoàn thuế chậm trễ làm thiệt hại cho các chủ thể đã chịu thuế trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Ðối với người nộp thuế, tất nhiên ngoài khả năng tính toán đầy đủ số thuế mình còn phải nộp sau khi được khấu trừ, còn phải có đầy đủ phẩm chất cuả một nhà kinh doanh lương thiện xem việc nộp thuế đầy đủ, kịp thời là một nghĩa vụ hợp lý và công bằng.

- Mở rộng diện thanh toán mua bán hàng hoá thông qua các tài khoản ngân hàng, tạo điều kiện cho việc xác định doanh thu bán hàng, làm căn cứ cho việc tính thuế được chính xác.

- ý thức tự nguyện, tự giác chấp hành các luật thuế cuả các doanh nghiệp từng bước được nâng lên, gắn liền với việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về thuế.

- Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và đưa dần việc thực hiện pháp luật vào nề nếp, kỷ cương, cả  trong nhận thức tư tưởng và trong hành động thực tế.

Nguyên tắc phát hành tiền và các kênh phát hành tiền





Ngân hàng nhà nước Việt Nam trực thuộc chính phủ, chính phủ uỷ quyền cho ngân hàng nhà nước thực hiện quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ ngân hàng. Ngân hàng nhà nước độc quyền phát hành tiền, nhưng không vì thế mà phát hành một cách tự ý, tuỳ tiện. Cùng chúng tôi tìm hiểu Nguyên tắc phát hành tiền và các kênh phát hành tiền nhé
Nguyên tắc phát hành tiền và các kênh phát hành tiền
Có thể bạn quan tâm:

Nguyên tắc phát hành tiền dựa trên cơ sở trữ kim làm đảm bảo.

Nguyên tắc này quy định khối lượng giấy bạc ngân hàng phát hành vào lưu thông phải được đảm bảo bằng dự trữ kim loại quý hiện có trong kho dự trữ của ngân hàng. Việc đảm bảo này phải được duy trì theo một trong các hình thức sau:
- Nhà nước quy định một hạn mức phát hành giấy bạc ngân hàng, khối lượng giấy bạc ngân hàng phát hành nằm trong hạn mức thì không cần phải có kim loại quý (vàng) làm đảm bảo, nhưng nếu vượt quá hạn mức đó thì khối lượng vượt quá hạn mức đòi hỏi phải có 100% vàng làm đảm bảo.
- Nhà nước sẽ quy định mức tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông mà không quy định mức dự trữ vàng đảm bảo cho lượng giấy bạc đó. Nhưng nếu phát hành giấy bạc vượt quá mức quy định đó thì phải có vàng làm đảm bảo.
- Nhà nước quy định mức dự trữ vang tối thiểu cho khối lượng giấy bạc phát hành, phần còn lại phải được đảm bảo bằng các chứng từ có giá như thương phiếu, chứng khoán chính phủ và các tài sản có kháccủa ngân hàng trung ương.

Nguyên tắc phát hành tiền có đảm bảo bằng hàng hoá.

Cùng với sự phát triển sản xuất hàng hoá, khối lượng hàng hoá lưu thông ngày càng tăng, đòi hỏi phải có nhiều tiền để đáp ứng cho nhu cầu trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Mặt khác do yêu cầu đáp ứng chi tiêu của chính phủ. Sau chiến tranh thế giới II, nguyên tắc 1. gần như được chấm dứt. Thay vào đó là sự đảm bảo bằng hàng hoá cho việc phát hành tiền. Mặt khác quá trình lưu thông xuất hiện mới nhận thức về tiền, thế giới đã phi tiền tệ hoá vai trò của vàng, các loại tiền dấu hiệu ra đời và thay thế cho tiền kim loại vàng trong lưu thông. Để lưu thông tiền tệ ổn định, ngân hàng trung ương đặt ra nguyên tắc phát hành tiền được đảm bảo bằng giá trị hàng hoá.
Theo nguyên tắc này, đảm bảo duy nhất cho khối lượng tiền trong lưu thông giờ đây là hàng hoá, thông qua các chứng khoán của chính phủ hoặc các giấy nhận nợ được phát hành từ các doanh nghiệp. Yêu cầu phát hành tiền dựa vào cơ sở hàng hoá nhằm duy trì vừa đủ cho nhu cầu của nền kinh tế, trên cơ sở phương trình trao đổi của Fisher với nội dung như sau:
M.V=P.Y
Trong phương trình này, Fisher quan niệm rằng, khối lượng tiền cần được tạo ra cho nền kinh tế (M), trong đó tiền mặt là bộ phận hạt nhân, phụ thuộc vào ba biến số: P ( mức giá cả bình quân của hàng hoá ), Y ( tổng sản lượng ),V (vòng quay tiền tệ ).
Dựa vào nguyên tắc trên ngân hàng trung ương cần phải dự tính khối lượng tiền phát hành, tức là dự kiến mức cầu tiền. Nhu cầu tiền được quyết định bởi tổng sản phẩm quốc dân thực tế, sự biến động của giá cả dự tính và tốc độ lưu thông tiền tệ, ta có thể tính theo công thức:
M=P.Q-V
Trong đó:
M : Tốc độ tăng trưởng của tiền cung ứng.
P : Mức biến động giá dự tính.
Q : Tỷ lệ tăng trưởng thực tế dự tính.
V : Sự biến động tốc độ lưu thông tiền tệ dự tính.
Các kênh phát hành tiền.
Thông qua nghiệp vụ tín dụng giữa Ngân hàng trung ương với các Ngân hàng thương mại.
Căn cứ vào nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, căn cứ vao lượng tiền cung ứng tăng thêm trong năm kế hoạch, dựa vào mục tiêu của chính sách tiền tệ, nhu cầu vay vốn của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng trung ương cho các tổ chức tín dụng vay ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn: Chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cho vay có đảm bảo bằng các chứng từ có giá và các loại cho vay khác.
Khi Ngân hàng trung ương cho các tổ chức tín dụng vay làm tăng bộ phận tiền mặt trong lưu thông hoặc làm tăng số dư tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng trung ương. Kết quả làm tăng tiền trung ương (MB). Nư vậy, qua việc Ngan6n hàng trung ương cho các Ngân hàng thương mại vay, Ngân hàng trung ương đã phát hành một lượng tiền vào lưu thông còn ngân hàng thương mại nhận được một khoản tín dụng từ ngân hàng trung ương là một nguồn vốn giúp ngân hàng thương mại mơ rộng hoạt động kinh doanh.
Kênh thị trường mở.
Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, ngân hàng thương mại mua các giấy tờ có giá trên thị trường, nghĩa là đã đưa một khối lượng tiền vào lưu thông, hàng hoá mà Ngân hàng trung ương mua là các tín phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá ngắn hạn. Khi Ngân hàng trung ương mua các chứng từ có giá trên thị trường thì tiền từ Ngân hàng trung ương ra lưu thông, kết quả là tiền cung ứng sẽ tăng lên bằng đúng giá trị của chứng từ có giá đó. Các chứng từ có giá được Ngân hàng trung ương nắm giữ trở thành tài sản có của Ngân hàng trung ương tương ứng với nó là một sự tăng lên của bên tài sản nợ hoặc tiền mặt hoặc tiền dự trữ. Kênh này đang được sử dụng phổ biến, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển vì đây là kênh rất linh hoạt.

Kênh phát hành tiền thông qua ngân sách nhà nước.

Trong quá trình hoạt động thu chi của ngân sách, thông thường thu có tính chất thời vụ mà chi thì diễn ra thường xuyên, do đó tại một thời điểm ngân sách có thể bị thiếu vốn ngắn hạn. Để đáp ứng nhu cầu chi, được sự đồng ý của chính phủ, Quốc hội, Ngân hàng trung ương tạm ứng cho ngân sách theo quy định của chính phủ bằng nhiều hình thức đẻ xử lý thiếu hụt. Như vậy Ngân hàng trung ương đã cung ứng một khối lượng tiền cho ngân sách chi tiêu. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng trung ương đã phát hành tiền thông qua kênh ngân sách.

Phát hành tiền thông qua kênh ngoại hối.

Khi Ngân hàng trung ương thực hiện mua ngoại hối trên thị trường hối đoái, đây cũng là một kênh phát hành tiền. Khi ngân hàng trung ương mua ngoại tệ làm dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương tăng, đồng thời một lượng tiền cũng được đưa vào lưu thông qua việc thanh toán tiền cho các tổ chức cá nhân bán ngoại tệ cho ngân hàng trung ương . Ngược lại khi ngân hàng trung ương bán ngoại tệ, dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương giảm, tiền trung ương cũng giảm.
Như vậy, tuy theo từng điều kiện nhất định mà các kênh cung ứng tiền của mỗi quốc gia được ngân hàng trung ương sử dụng phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Song dù tiền được cung ứng theo kênh nào cũng phải đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ.

Kế toán các yếu tố cơ bản của sản xuất

Các bạn cùng chúng tôi tìm hiểu Kế toán các yếu tố cơ bản của sản xuất nhé! 

Xem thêm:

Kế toán các yếu tố cơ bản của sản xuất

Kế toán tài sản cố định:

- Tài khoản sử dụng:

+ TK “TSCĐ hữu hình” (211)

+ TK “TSCĐ vô hình (213)

Kết cấu của hai tài khoản này như sau:

Bên Nợ: Nguyên giá TSCĐ tăng lên.

Bên Có: Nguyên giá TSCĐ giảm xuống.

Dư Nợ: Nguyên giá TSCĐ hiện có.

+ TK “Hao mòn TSCĐ” (214)

Kết cấu của tài khoản này như sau:

Bên Nợ: Giá trị hao mòn của TSCĐ giảm xuống.

Bên Có: Giá trị hao mòn của TSCĐ tăng lên.

Dư Nợ: Giá trị hao mòn hiện có của TSCĐ.

Giữa TK 211, 213, 214 có mối liên hệ:

Số dư TK 211, 213 - Số dư TK 214 = Giá trị còn lại.

Khi lên BCĐKT thì hao mòn TSCĐ được ghi bên tài sản và ghi số âm.

- Phương pháp phản ánh:

+ Tăng TSCĐ:

. Khi mua sắm TSCĐ, kế toán căn cứ vào nguyên giá, thuế GTGT nộp khi mua TSCĐ và số tiền thanh toán để phản ánh:

Nợ TK 211 “TSCĐ hữu hình” hoặc TK 213 “TSCĐ vô hình”.

Nợ TK 133 “Thuế GTGT được khấu trừ”.

Có TK 111 “Tiền mặt”.

Hoặc Có TK 112 “Tiền gửi ngân hàng”.

Hoặc Có TK 331 “Phải trả cho người bán”.

+ Giảm TSCĐ: Khi giảm TSCĐ do nhượng bán hoặc thanh lý sẽ ghi:

Nợ TK 214 “Hao mòn TSCĐ” -> Giá trị đã hao mòn.

Có TK 821 “Chi phí bất thường: -> Giá trị còn lại.

Có TK 211 “TSCĐ hữu hình -> Nguyên giá.

+ Khấu hao TSCĐ là phần giá trị của TSCĐ chuyển vào chi phí của các đối tượng sử dụng biểu hiện dưới hình thức tiền tệ.

Kế toán khấu hao TSCĐ sử dụng TK 214 “Hao mòn TSCĐ”, kết cấu của TK 214 đã giới thiệu ở trên.

+ Hàng tháng, khi tiến hành trích khấu hao TSCĐ, kế toán sẽ ghi:

Nợ TK 627 “Chi phí sản xuất chung”.

Nợ TK 641 “Chi phí bán hàng”.

Nợ TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”.


Có TK 214 “Hao mòn TSCĐ”.

Đồng thời kế toán còn ghi đơn bên Nợ TK 009 “Nguồn vốn khấu hao cơ bản” khoản khấu hao đã trích.

Kế toán vật liệu:

+ Kế toán vật liệu sử dụng TK 152 “nguyên liệu, vật liệu”. Kết cấu của TK này như sau:

Bên Nợ: Trị giá vật liệu nhập kho.

Bên Có: Trị giá vật liệu xuất kho.

Dư Nợ: Trị giá vật liệu tồn kho.

(1) Khi nhập vật liệu từ các nguồn khác nhau, kế toán phải căn cứ vào giá thực tế để nhập, thuế GTGT nộp khi mua và số tiền thanh toán để phản ánh:

Nợ TK 152 “Nguyên liệu, vật liệu”.

Nợ TK 133 “Thuế GTGT được khấu trừ”.

Có TK 111 “Tiền mặt”

Hoặc Có TK 112 “Tiền gửi ngân hàng”.

Hoặc Có TK 331 “Phải trả cho người bán”.

(2) Khi xuất vật liệu sử dụng cho các đối tượng, căn cứ vào giá xuất kho và mức sử dụng cho từng đối tượng sẽ ghi:

Nợ TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”.

Nợ TK 627 “Chi phí sản xuất chung”.

Nợ TK 641 “Chi phí bán hàng”.

Nợ TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”.


Có TK 152 “Nguyên liệu, vật liệu”.

Kế toán tiền lương và các khoản trích theo tiền lương.

- Kế toán tiền lương sử dụng tài khoản 334 “Phải trả công nhân viên”. Tài khoản này có kết cấu như sau:

Bên Nợ: Khoản tiền đã thanh toán cho CNV.

Bên Có: Khoản tiền phải thanh toán cho CNV.

Dư Có: Số tiền còn phải thanh toán cho CNV.

Phương pháp phản ánh:

+ Khi xác định số tiền lương phải thanh toán cho công nhân tính vào chi phí của các đối tượng có liên quan sẽ ghi:

Nợ TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”.

Nợ TK 627 “Chi phí sản xuất chung”.

Nợ TK 641 “Chi phí bán hàng”.

Nợ TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”.

Có TK 334 “Phải trả công nhân viên”.

Kế toán BHXH, BHYT và KPCĐ sử dụng tài khoản 338 “Phải trả và phải nộp khác”. Kết cấu của tài khoản 338 như sau:

Bên Nợ: Số đã trả, đã nộp hoặc đã sử dụng.

Bên Có: Số phải trả, phải nộp hoặc trích lập được.

Dư Có: Số còn phải trả, phải nộp.

Phương pháp phản ánh.

Khi tính BHXH, BHYT và KPCĐ theo tỷ lệ quy định để tính vào chi phí sản xuất kinh doanh sẽ ghi:

Nợ TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”.

Nợ TK 627 “Chi phí sản xuất chung”.

Nợ TK 641 “Chi phí bán hàng”.

Nợ TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”.

Có TK 338 “Phải trả phải nộp khác”.